Century Riverside Hotel, Hue City, 2012 (Click on each pix to see its full-sized version.)
At the department office, 2012
Century Riverside Hotel, Hue City, 2012 (Click on each pix to see its full-sized version.)
At the department office, 2012
Posted at 01:51 AM in Picture Talks | Permalink | Comments (0)
I have an American friend Doug. I call him a friend in the way Americans often do; in fact, he is much older. We met at the college when he and his wife Cindy came to work as volunteer lecturers. Doug is a veteran who returned to Vietnam and fell in love with the country and its people. I used to study in the U.S. and have a passion in studying American culture. So up we teamed to teach the American Culture course for 3rd-year students in the English Department...
Doug is an excellent photographer, especially interested in taking pictures of faces and people at work. Though he always says he's an amateur photographer, I call him an amateur who takes professional photos. During the time in Hue and other places in Vietnam, he took tons of awesome photos. His artistic eyes allow him to see beauty in very modest things. Best of all, he is an amazing story teller. I must say that he has a gift of making simple things into exciting stuff to read and blogging is his way of staying in touch with his family and friends back home while in Vietnam.
I like observing and enjoy writing. While I was finding a way to share and circulate my writings, his idea of blogging came to my rescue. Actually it's Doug who facilitates my blog and it's his excellent posts that re-inspire me to writing in English.
Doug and Cindy returned home in America in 2006 because family beckoned, as he put it, but again the country that they call second home kept beckoning back. They found ways to return many times for visits. Although he once admitted that his age didn't allow him to travel so far so often, the love for Vietnam is still so strong that has so far resulted in many "final trips." And that's also why we still have occasions to meet and talk over cà phê sữa đá and phở, his favorite diet.
A while ago, he mentioned writing his book Same River, Different Water: A Veteran's Journey from Vietnam to Việt Nam. The news came to me as abrupt but not surprising. I knew he would do it; it would be a waste if he didn't. As a veteran, he certainly recalls Vietnam for other veterans (and their wives, too, as he wishes) but it is Việt Nam that appeals to me. And that's why the book is not for veterans only.
Why Vietnam and why Việt Nam? You may be a bit puzzled now. But I want to leave that question unanswered so that you can find the answer in the book...
Highly recommended!
Posted at 01:38 AM in Books, The World of Books | Permalink | Comments (0)
1. Nhân Festival Huế 2012, nữ sinh trường Quốc Học Huế được khuyến khích mặc đồng phục áo dài trắng và đội nón lá đến trường vào một số ngày nhất định trong tuần. Chuyện áo dài thì ai cũng đã biết, nhưng chuyện đội nón lá mới là chuyện đáng nói. Và thế là hình ảnh duyên dáng, nhu mì rất riêng của Huế đã bất ngờ trở lại nơi đây gần như trọn vẹn...
Ý tưởng này được nhà trường khơi gợi và một cơ sở kinh doanh có lòng với văn hóa Huế ủng hộ bằng cách tặng 200 chiếc nón lá cho nữ sinh Quốc Học. Ngày trước, trong khi nữ sinh ở Sài Gòn đội mũ (dù cũng gọi là "nón") với áo dài thì nữ sinh Huế vẫn trung thành với chiếc nón lá tự bao đời để tạo nên một hình ảnh biểu cảm riêng biệt. Sự duyên dáng, đằm thắm của hình ảnh ấy đã đi vào thi ca, đi vào tiềm thức của người Huế như một nét riêng không thể thay đổi. Một thời, suy nghĩ thiển cận và khó khăn kinh tế đã cuốn phăng chiếc áo dài nữ sinh và theo đó là chiếc nón. Vậy mà kỳ diệu thay, hình ảnh ấy đã quay trở lại một cách bất ngờ làm nức lòng bao người xứ Huế, đặc biệt là các thế hệ nữ sinh Đồng Khánh một thời cũng áo dài tím, áo dài trắng và nón lá thước tha. Chiếc nón lá đi với áo dài là một sự kết hợp quá hoàn hảo. Mà đã gọi là hoàn hảo thì bất cứ một sự pha trộn nào khác, dù có sáng tạo đến mấy, cũng xem như là thất bại...
2. Một lần đọc blog của một người là Việt kiều. Trong lần về thăm quê, có nhờ một vài nữ sinh Huế đi làm mẫu chụp ảnh phong cảnh Huế. Khi đưa lên blog, hễ lúc nào trong hình có người mẫu đội nón lá thêu hoa là tác giả lại chua thêm câu nhận xét bên dưới "Wrong conical hat", lại một tấm hình khác, lại "Wrong conical hat again." Mà anh nhận xét rất chính xác. Ngày trước, ngoại trừ chiếc nón quai găng, chiếc nón lá xứ Huế luôn là nón trơn, nghĩa là những chiếc nón lá trắng chân phương và tinh khôi, chất liệu hoàn toàn tự nhiên, không có một chi tiếc trang trí nào khác mà chính vì thế mà tinh tế, mà sang trọng. Sau đó lại xuất hiện nón bài thơ, cũng chỉ riêng Huế có. Nghĩa là giữa hai lớp lá người thợ thêm vào vài câu thơ, vài họa tiết trang trí, nhưng chỉ khi nào đưa lên ánh sáng mới nhìn thấy. Vẻ đẹp Huế là vẻ đẹp kín đáo, chưa bao giờ là vẻ đẹp phô trương.Vậy mà không hiểu sao gần đây, lại xuất hiện những chiếc nón được thêm thắt những hình thêu, mà thà là thêu đẹp cho cam, những nét thêu vụng về như đứa trẻ mới học. Tôi cho rằng, nếu như nón bài thơ là một bước tiến của nón lá Huế, thì những chiếc nón thêu ngày nay là một bước lùi... Mong sao đó chỉ là những bốc đồng trong chốc lát để sớm trả lại cho nón lá xứ Huế cái thanh cao thưở nào...
3. Sở dĩ ở trên tôi nói hình ảnh nữ sinh Huế mặc áo dài trắng đội nón lá "gần như trọn vẹn" chính là vì phụ kiện kèm theo: cái ba-lô. Thời tôi đi học, nữ sinh mặc áo dài thì luôn ôm cặp, loại cặp da đựng sách vở ôm trong tay. Thỉnh thoảng có bạn xách cặp hoặc đeo cặp thì đã thấy lạc lõng rồi. Đơn giản vì áo dài, nón lá và chiếc cặp ôm trong tay hay trước ngực đi với nhau quá sức hài hòa. Thời nay, học sinh mang ba-lô đi học nhìn trẻ trung, năng động, lại tiện lợi vì đựng được nhiều đồ. Thế nhưng những khi mặc áo dài mà đeo cái ba lô con cóc to đùng trên lưng thì lại là chuyện khác vì trông nó kỳ dị quá. Có những thứ nhìn quen mắt bỗng trở nên bình thường nhưng sao cái vụ áo dài ba-lô này thì tôi không tài nào quen được. Hy vọng những nữ sinh xứ Huế sẽ lưu ý điều này để hình ảnh đẹp được trở lại một cách vẹn toàn...
Ảnh: Nhà hàng hình chiếc nón lá ở Đập Đá, Huế
Posted at 08:28 PM in Slices of Life | Permalink | Comments (0)
As always, the Perfume River in Hue is lit up every year on the occasion of Phat Dan with the seven giant lotuses. And this year, with lanterns too representing the colors of the Buddhist flag.
Hue City is step by step known as a place for street art. Good to see art is by the community and for the populace...
Posted at 04:01 AM in Picture Talks | Permalink | Comments (0)
Một trong những lý do ba me tôi quyết định chuyển nhà từ khu vực Gia Hội sang bờ Nam sông Hương là để anh em chúng tôi có thể thuận tiệntheo học ở hai ngôi trường trung học lâu đời nhất và cũng danh giá nhất xứ Huế thời ấy, đó là trường Quốc Học và Hai Bà Trưng, còn được biết với các thế hệ trước với tên Khải Định và Đồng Khánh. Khởi đầu, Quốc Học là trường dành riêng cho nam và Đồng Khánh là trường nữ, nhưng đến thời của tôi thì nam nữ học chung. Hai ngôi trường màu hồng nằm cạnh nhau, chỉ cách một con đường nhỏ, luôn được nhắc đến cả đôi Quốc Học-Hai Bà Trưng (Trường anh-Trường em). Bấm vào hình để xem phiên bản lớn hơn.
Sau khi chuyển từ Gia Hội sang bên này, cấp 1 và cấp 2, tôi học tại trường Lê Lợi. Học xong lớp 9,
được chuyển thẳng lên lớp 10 trường Hai Bà Trưng, tức là không cần phải thi vượt cấp như những bạn khác. Hồi ấy, đó là một vinh dự. Học sinhp phải đạt danh hiệu học sinh giỏi toàn diện tất cả các năm học từ lớp 6 đến lớp 9 và phải đỗ tốt nghiệp loại Giỏi thì mới được chuyển thẳng lên cấp 3. Chuyện này không hề đơn giản vì tỷ lệ học sinh giỏi đạt được hằng năm thời ấy rất ít, đôi khi cònbị khống chế, mà phải đạt loại giỏi cả mấy năm liên tiếp mới được...
Kỷ niệm đáng nhớ đầu tiên của tôi ở trường mới là chuyện học ngoại ngữ. Nguyên hồi học ở cấp 2 Lê Lợi, chúng tôi học tiếng Pháp. Đang ngon đang lành, chẳng biết vì lý do gì, đột nhiên môn tiếng Pháp bị loại ra khỏi chương trình học và thế là lũ học trò chúng tôi trở nên "bơ vơ", các thầy cô giáo tiếng Pháp phải chuyển qua dạy các môn khác. Và cũng vì thế, khi vào lớp 10, thay vì trộn chung lại, học trò Lê Lợi chúng tôi tự nhiên bị xếp với nhau thành lớp không có ngoại ngữ. Vui vì lại được học cùng nhau, nhưng cũng cảm thấy như thể bị phân biệt đối xử...
Và thế là tôi, cùng với hai người bạn khác là XL và DH đã rủ nhau thực hiện một quyết định táo bạo, đó là viết đơn tự nguyện xin chuyển lớp để được vào học một lớp nào đó có dạy tiếng Anh, nghĩa lại phải "đấu" lại với những bạn đã có mấy năm "thâm niên" tiếng Anh ở cấp 2 trong khi mình là dân tiếng Pháp và những năm cuối cấp coi như là chẳng học ngoại ngữ nào. Khi lá đơn được đưa lên, ban giám hiệu tỏ vẻ nghi ngờ, không muốn chấp nhận, (đương nhiên rồi). Sau đó, các thầy ra điều kiện là chúng tôi phải viết giấy cam đoan là sẽ theo được các lớp tiếng Anh. Và thế là cuối cùng, ba chúng tôi được chấp thuận vào học lớp 10B, là một lớp tiếng Anh và có cô giáo chủ nhiệm cũng là giáo viên dạy môn tiếng Anh luôn. Điều rất vui là những bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết đầu tiên của ba chúng tôi luôn là những bài có điểm cao của lớp dù trước đó chẳng hề học tiết tiếng Anh nào. Riêng tôi thì trong mùa hè trước đó, có tự học một ít ở nhà. .. Sau này, XL theo ngành y, DH vào sư phạm tiếng Nga, còn riêng tôi như là định mệnh, tiếng Anh đã theo tôi suốt cuộc đời...
Ngày ấy, Hai Bà Trưng không những nổi tiếng về chất lượng dạy, học với nhiều giáo viên giỏi mà còn về nề nếp học đường với đội ngũ các thầy giám thị nghiêm khắt. Cái danh tiếng của Đồng Khánh ngày trước vẫn còn đây qua hình ảnh các cô lúc nào cũng áo dài nền nã và đài các, còn các thầy thì mẫu mực, nghiêm trang. Ngôi trường trong mắt chúng tôi thời ấy thật to, thật đẹp, nhìn thanh thoát (vì vốn là trường nữ) và thoáng mát nếu so với cái bề thế và vững chãi của Quốc Học kề bên, có phần hơi thâm u vì cây cối rậm rạp hơn. Ngôi trường thời ấy đầy đủ tiện nghi, phòng học thoáng mát, nhà chơi rộng rãi, phòng khánh tiết khang trang, thư viện ngăn nắp, phòng thí nghiệm sạch sẽ...
Một chuyện đáng nhớ khác là chuyện mượn sách ở thư viện. Thời đó, sách giáo khoa được nhà trường cho mượn, chứ học sinh không phải tự mua như bây giờ. Vì thế, để răn đe học sinh phải biết giữ gìn sách vở cho các khóa sau, thầy NHCP, là trưởng thư viện hồi ấy, mỗi cuối năm đến lúc trả sách, bắt ban cán sự lớp phải ngồi kiểm tra bằng cách lật từng trang, nếu rách trang nào thì "bắt đền" trang đó (quy ra bằng tiền). "Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò," đương nhiên có nhiều cách để lách, thế nhưng thế hệ chúng tôi ngày trước, dù có nghịch ngợm, nhưng hễ thầy cô nói là nghe răm rắp. Với số lượng sách lớn như vậy, nếu có trang nào rách mà ban cán sự lớp cố lờ đi thì chắc thư viện cũng không tài nào phát hiện hết được. Thế nhưng, chúng tôi vẫn kiểm tra từng trang đàng hoàng theo quy định. Lúc ấy, trong mắt bọn học trò chúng tôi thì đó là một chuyện thật lập dị nhưng sau này, khi biết rằng thầy NHCP chính là người đã khởi xướng và thực hiện bộ sách Nghiên cứu Huế, được xem là loạt sách nghiêm túc và có giá trị về văn hóa Huế thì chúng tôi nhận ra thầy thật sự là một người yêu sách. Và đương nhiên, chúng tôi không còn thấy đó là một hành động lập dị nữa mà là một bài học về sự trân quý sách vở, mà suy rộng ra là trân quý kiến thức. Nhà riêng của thầy bây giờ đã trở thành một thư viện tại gia đầu tiên ở Huế, nơi lưu trữ những tập sách quý hiếm về Huế mà giới nghiên cứu thường tìn đến để tham khảo.
Tôi rời trường năm 1985 và theo học Đại học Sư phạm Huế. May mắn hơn những bạn khác, tôi vẫn có nhiều dịp về lại trường cũ, gặp lại các thầy cô, tìm lại những kỷ niệm của thời học trò. Cả hai đợt kiến tập và thực tập sư phạm, tôi đều về trường Hai Bà Trưng. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi có dạy ở trung tâm ngoại ngữ Cenlet, cũng đặt cơ sở tại trường. Thế cho nên dù xa nhưng vẫn gần, hằng đêm tôi vẫn dạy ở đó, có khi ngay chính trong phòng học mình từng ngồi ngày trước. Một đêm, vừa xong buổi dạy, xách cặp ra về, đi ngang qua ngôi nhà hai tầng vốn dành cho các vị hiệu trưởng (hiện là phòng truyền thống của trường) nằm ngay trong khuôn viên trường, tôi thấy có bóng người đang ngồi trước nhà và nghe tiếng gọi tên mình. Tôi quay lại và nhận ra chính là thầy hiệu trưởng HTD. Là hiệu trưởng, thầy đâu có dạy, nhưng có lẽ vì tôi là lớp trưởng nên thầy vẫn nhớ. Thầy trò vui mừng gặp lại. Hỏi chuyện, biết tôi vừa mới tốt nghiệp, khi chào tạm biệt, thầy đột nhiên nói "Con về trường dạy nhé!"
Như "buồn ngủ mà gặp chiếu manh," mà là Hai Bà Trưng nữa chứ đâu phải chuyện chơi. Ngày trước, thời bao cấp, các trường đại học nhận rất ít sinh viên, thường mỗi khóa chỉ nhận một lớp khoảng 30 sinh viên. Chính vì thế mà số học sinh trung học thi đậu đại học vô cùng ít. Nhưng bù lại, những năm đại học thì nhà nước bao cấp về gạo, thực phẩm và khi ra trường thì sẽ được phân nhiệm sở dù lắm lúc phải đi nhận việc ở những vùng xa xôi. Nhưng đến thời của tôi thì nhà nước bỏ chính sách đó, nghĩa là mỗi người phải tự lo đi xin việc cho mình. Vì thế, khóa tôi ra trường, mọi người phải chay đôn chạy đáo để tìm việc. Nói vậy để thấy rằng lời gợi ý của thầy hiệu trưởng lúc ấy là một sự ưu ái mà không phải ai cũng có. Được dạy ngay thành phố quê hương, lại ở chính ngôi trường nổi tiếng mà mình từng theo học là ao ước ngày ấy của tôi. Thế là tôi hăm hở đem bộ hồ sơ lên Sở Giáo dục nạp. Thế nhưng, khi hồ sơ của tôi đến Sở thì Sở lại có ý định đưa tôi về Quốc Học để cơ cấu dạy khối chuyên sau này. (Thời tôi học thì khối chuyên các môn xã hội nằm ở Hai Bà Trưng, còn khối chuyên các môn tự nhiên là ở Quốc Học, nhưng thời điểm tôi tốt nghiệp đại học thì các lớp chuyên đã quy về một nơi là trường Quốc Học). Và thế là rốt cuộc, tôi có một năm giảng dạy tại trường Quốc Học thay vì Hai Bà Trưng như mong ước. Vậy nhưng cuối cùng thì một lần nữa tôi lại về trường cũ, nhưng lại là trường đại học cũ...
Đồng Khánh-Hai Bà Trưng hôm nay đã bước qua tuổi 95 năm, chỉ còn 5 năm nữa thôi là tròn 100 tuổi. Chúng tôi hẹn nhau về dự lễ kỷ niệm trường. Những ngày trước đó trời nắng đẹp,vậy mà đúng hôm lễ chính, bỗng đổ mưa. Thế nhưng thời tiết xấu vẫn không làm chùn bước những cựu học sinh tìm về kỷ niệm. Không khí trước cổng trường thật nhộn nhịp đặc biệt với sự xuất hiện của nữ sinh Đồng Khánh các thế hệ trước, lưng đã còng, đầu đã bạc, vẫn ánh lên trong mắt niềm hân hoan gặp lại trường cũ, bạn bè. Cô chủ nhiệm lớp 10 và 11 của chúng tôi (nay đã về hưu) đón chúng tôi ở cổng trường, đi đâu cũng bảo "Đây là học trò lớp 10B của tui, đây là LA, lớp trưởng lớp tui nè, còn nhớ không?" Vậy mà xúc động biết bao, có nhiều thầy cô, dù không trực tiếp dạy , vẫn đọc tên vanh vách "DLA phải không?" Tôi gặp lại thầy CHH, chủ nhiệm lớp 12, thầy M dạy Vật Lý, gặp cô O cũng dạy Vật Lý, thoáng thấy cô BĐ dạy tiếng Anh lớp 12 ... Về chốn xưa, gặp người cũ, vui buồn lẫn lộn. Vui vì được gặp các thầy cô, nhưng lại chợt buồn vì nhận ra nhiều thầy cô đã không còn nữa... Chúng tôi rủ nhau đi dạo quanh trường, ngang qua những nhóm học sinh đang đá cầu, dù chẳng biết chúng tôi là ai, vẫn vòng tay "Thưa thầy" "Thưa anh" "Thưa chị" mà bỗng thấy ấm lòng. Ít ra thì học trò ở xứ Huế này vẫn còn lễ phép, không như các câu chuyện đầy rẫy trên báo chí về sự suy thoái đạo đức của học trò đâu đó. Chúng tôi đến thăm phòng truyền thống của trường, cũng là nơi thầy hiệu trưởng HTD từng ở, rồi kéo nhau về thăm lại phòng học cũ, "chỗ ni tau ngồi, chỗ nớ mi ngồi". Lớp học bây giờ thấy như nhỏ hơn, leo lên những bậc cầu thang giờ đã được đúc bằng xi-măng mà nhớ cái cầu thang gỗ ngày trước lóc cóc mỗi bước chân đi, nhớ những bộ bàn ghế rời và to, rộng rãi chứ không phải nhỏ như bây giờ, nhớ phòng thí nghiệm sinh vật mà mỗi khi làm thí nghiệm mổ cóc, mổ ếch lúc nào tôi cũng bị cô TT gọi lên phụ mà thật tình trong lòng chẳng muốn chút nào vì sợ, nhớ thầy H dạy toán, thầy N dạy văn hễ đến giờ giải lao là xuống ngồi cạnh tôi chuyện trò, nhớ thầy H người miền Bắc, mỗi lần có bạn nào gọi lên bảng làm toán mà làm sai hay bị thầy nửa la nửa đùa "Ngu như con me" là chúng tôi nháy nhau cười vì chẳng biết con me là con gì...
Bao nhiêu là kỷ niệm chợt ùa về như mới hôm qua, những kỷ niệm của một chương trong cuộc đời của chúng tôi, và hình như đó là chương đẹp nhất...
Nhân Kỷ niệm 95 năm Đồng Khánh - Hai Bà Trưng 3/2012
Posted at 05:26 AM in Teaching and Learning | Permalink | Comments (0)
Cách đây mười mấy năm, lần đầu tiên nhìn thấy những bức tượng người ở New York đã để lại trong tôi một ấn tượng thú vị thật khó quên và giờ đây, loại nghệ thuật công cộng độc đáo này đã xuất hiện trong các Festival ở Huế... Cảm xúc vẫn như xưa, vẫn hứng khởi và luôn khâm phục sức chịu đựng phi thường của các nghệ sĩ. Chỉ có những người yêu nghệ thuật đích thực mới làm được như thế...
Location: Nguyen Dinh Chieu St., Hue City
Hue Festival 2012
Posted at 09:11 AM in Arts, Picture Talks | Permalink | Comments (2)
Dạo sau này, vì nhu cầu của du lịch, các tiệm ăn sang trọng ở Huế đã bắt đầu xuất hiện những món ăn với vẻ đẹp được tô vẽ, đặc biệt là các bữa ăn được gọi là "cơm vua" hay "cơm cung đình". Chuyện đó chẳng có gì đáng trách, cũng vì một mục đích tốt đẹp là khoe sự khéo tay của các đầu bếp. Tuy nhiên, bài viết này muốn nói đến một vẻ đẹp khác, đó là vẻ đẹp tự thân của món ăn, mà đó mới chính là vẻ đẹp đích thực của ẩm thực Huế.
Và có lẽ, trong những món ăn đặc Huế, chiếc bánh khoái là minh chứng cho một vẻ đẹp không thể phủ nhận, một vẻ đẹp tự nhiên của nguyên vật liệu tươi ngon và cái tài kết hợp, sắp xếp khéo léo của người Huế.
Bánh khoái chỉ có ở Huế; ở các miền khác thì có bánh xèo. Chẳng biết chính xác cái nào là phiên bản của cái nào, nhưng có một điều rõ ràng mà ai cũng thấy đó là trong khi các biến thể bánh xèo từ Huế trở vào trong Nam na ná giống nhau về hình thức cũng như cách chế biến và thưởng thức thì bánh khoái xứ Huế vẫn đứng ở một vị trí riêng biệt và khác hẳn.
Bức tranh ấy hoàn toàn tự nhiên và được tạo thành bởi sự hòa trộn màu sắc các nguyên vật liệu và những phụ gia: màu vàng ươm của lớp vỏ bánh có pha chút bột nghệ, màu trắng nõn nà của những cọng giá căng tròn, màu đỏ au của mấy con tôm còn một phần vỏ mà người Huế hay gọi là lột bắt cầu, màu nâu xám của những tai nấm tươi, màu ngà của mấy lát thịt heo ba chỉ hoặc thịt băm, màu vàng tươi của trứng gà, màu xanh của những lá hành hương, tất cả gói gọn trong một chiếc bánh hình tròn vừa bằng cái đĩa nhỏ. Tiếc một điều là không biết lý do tại sao, bánh khoái sau khi đổ xong thường được gấp lại nên phần nhân bên trong phần nào bị che khuất, chứ nếu để nguyên trạng thì đó là một bức tranh hoàn hảo về màu sắc và hình khối.
Đó là mới nói về phần bánh. Bánh khoái ngon còn nhờ vào đĩa rau sống và bát nước lèo chỉ có ở Huế. Với món ăn Huế, dĩa rau sống ăn kèm cũng phô diễn một nghệ thuật xếp đặt tài tình về hình dáng và sự hòa quyện đủ các vị như thể muốn diễn tả cho đủ những sắc thái của kiếp nhân sinh. Có vị chua thanh của khế, vị chát mà ngọt của trái vả non và vị chát hơi gắt của chuối xanh thái mỏng mà người Huế gọi là chuối chát cùng với mùa vị của đủ các loại rau mùi mà trong đó không thể thiếu một loại rau chỉ riêng có ở Huế và mang một cái tên rất đơn giản là rau thơm. Vì bản thân món bánh khoái hơi béo do phải chiên vàng trong dầu nên phải ăn kèm với thật nhiều rau để bớt ngán và đó cũng là một ví dụ cho sự kết hợp nguyên vật liệu để tìm đến sự cân bằng trong dinh dưỡng của món ăn Huế. Và cũng vì thế, đĩa rau sống dọn kèm với bánh khoái trông có phần phong phú hơn chứ không mang tính tượng trưng như dĩa rau sống ăn với thịt phay và tôm chua Huế . Màu sắc và hình dáng của dĩa rau sống cũng là một kết hợp đầy mỹ thuật. Màu xanh hơi đậm của các loại rau thơm, vốn là đặc điểm của rau vùng khí hậu nóng, màu trắng của lát vả mỏng tanh hình trăng lưỡi liềm cong cong, hình ngôi sao của lát khế chua mọng nước và không quên một trái ớt đỏ thắm, thường được chẻ ra thành nhiều cạnh và ngâm vào nước cho nở xòe ra thành một bông hoa trang trí cùng với một nhúm ớt xanh loại trái nhỏ thơm lừng nhưng cũng cay xé và những múi tỏi nhỏ xíu nhưng thơm ngon hơn những loại tỏi mập mạp và trắng phau ở các miền khác. Và cuối cùng là bát nước lèo. Đây cũng là một kỳ công của sự chế biến và kết hợp mùi vị. Nước lèo làm từ nguyện liệu chính là tương đậu nành mà nếu có được loại tương hạt thì càng ngon. Mùi vị của bát nước lèo trong món bánh khoái có người cho là chiếm hết 50% cái ngon của món ăn. Đó là sự kết hợp vị mặn của tương, vị béo của gan neo băm nhuyễn, vị ngọt của đường, vị bùi của đậu phụng rang giã nhỏ... Mỗi đầu bếp có một cách gia giảm nguyên vật liệu riêng để cho ra những bát nước lèo không giống nhau và điều đó thuộc về bí quyết và kinh nghiệm riêng của mỗi người, mà không thể cân đo đong đếm được. Cũng như vỏ bánh, cũng từ bột gạo cả, nhưng mỗi người có một cách pha chế riêng, khác nhau ở loại bột phụ gia thêm vào để bánh chiên ra bảo đảm giòn và thơm. Có người thêm chút bột bắp, có người lại dùng bột năng, có người lại thêm bột đậu xanh... Chừng đó thôi cũng cho ra những cái bánh chất lượng khác nhau rồi.
Tôi tự nhận mình hơi khắt khe về tính nguyên bản của món ăn. Như thói thường, nhiều món ăn qua thời gian đã bị thay đổi theo hướng tiện lợi hơn và nhanh chóng hơn. Có sự thay thế mà tôi cho là thông minh vì có những nguyên vật liệu không phải quanh năm lúc nào cũng sẵn có, mà phải đợi đến mùa. Và điều đó hoàn toàn được thông cảm. Nhưng có những thay đổi làm thực khách giật mình. Việc nấm bị loại bỏ hoàn toàn ở các tiệm bánh khoái hiện tại là một điều đángt tiếc vì cái bánh khoái có nấm ngon hơn nhiều. Tôi thường tự hỏi, nếu như trước đây, vì nấm không phải mùa nào cũng có nên các đầu bếp đã phải bớt đi nguyên liệu này, nhưng ngày nay người ta đã có thể trồng các loại nấm quanh năm rồi, tại sao không ai khôi phục lại chuyện này. Đàng rằng không có nấm thì chất lượng cái bánh có phần sút giảm nhưng theo tôi, nguy hiểm là ở chỗ món bánh khoái không có nấm đã trở nên quá quen thuộc đến nỗi người ta đã quên hoặc không biết sự hiện diện đáng ra phải có của chúng trong chiếc bánh khoái xứ Huế. Và thế là tính nguyên bản của món ăn đã bị ảnh hưởng...
Có một biến tấu khác làm tôi giật mình, nếu không muốn nói là tức giận. Hiện nay, ở các tiệm bánh khoái, những lát thịt ba chỉ hoặc thịt băm đã bị các đầu bếp, có thể để cho tiện, thay thế bằng mấy cục chả quết mà trong nam hay gọi là giò sống. Điều đó đã làm tôi thấy "gai mắt" rồi. Vậy mà một lần xem TV, trong một chương trình biễn diễn món ăn Huế trong một lễ hội du lịch gì đó ở Sài Gòn với sự tham gia của nhà bếp của một khách sạn hàng đầu của Huế, nhìn cái bánh khoái làm ra với mục đích quảng bá ẩm thực Huế mà trên đó có lát chả heo to đùng thay cho những lát thịt mà giật mình. Bánh khoái Huế không "hàm hồ" như thế. Nếu không phải là do sự kém hiểu biết của đầu bếp thì là một sự lười biếng và cẩu thả không chấp nhận được. Càng đáng trách hơn vì đó không phải là một biến tấu chẳng đặng đừng chỉ để ăn trong gia đình mà là một chương trình quảng bá tinh hoa ẩm thực xứ Huế, làm cho người ta hiểu sai về món bánh khoái và biết đâu đấy những thế hệ sau sẽ theo đó mà làm ra những cái bánh lai căng và thô thiển như thế.
Nếu đã gọi ẩm thực là văn hóa, thì văn hóa ấy phải được giữ gìn cẩn trọng...
Posted at 08:49 AM in Food and Drink | Permalink | Comments (2)
Một đóa sen sắp nở trên sông Hương và hứa hẹn đó là một bông hoa đẹp.
Nguyên thủy, đó là nhà hàng nổi mang tên Sông Hương, nằm ở một vị trí lý tưởng, nơi thực khách có thể ngắm cảnh sông Hương tuyệt đẹp và hưởng những ngọn gió sông mát rượi thổi suốt ngày đêm. Nhà hàng nổi trước đây là một kiến trúc bằng tôn khá tầm thường và tạm bợ. Lúc mới ra đời, nhà hàng còn có được một điều độc đáo là có thể chạy trên sông một đoạn, nhưng sau đó chẳng hiểu vì sao không chạy nữa mà chỉ neo đậu một chỗ. Dù vậy, do có vị trí đắc địa, trong một thời gian dài, nhà hàng vẫn được thực khách chiếu cố...
Lần này, nhà hàng được đầu tư xây dựng lại hoàn toàn mới với tạo hình một đóa sen trắng khá đẹp. Xét về mặt hình khối, theo tôi, đây là một thiết kế thành công. Quy mô vừa phải, biết nhường nhịn không gian xung quanh. Đóa sen này đã góp phần làm cảnh quang khu vực này đẹp lên nhiều trong tình hình khu vực bờ nam sông Hương đã bắt đầu có dấu hiện rối rắm khi các tòa nhà thi nhau mọc lên. Nhìn từ cầu Trường Tiền, đóa sen trắng nổi bật và hài hòa với các tòa nhà của khách sạn Hương Giang, Century và khách sạn Gerbera mới xuất hiện sau này cùng một tone màu trắng khá ăn ý..
Cách đó không xa, vượt qua công viên, bên kia đường là một bức phù điêu bằng chất liệu đồng. Cũng mang hình dáng của một đóa sen gợi nhớ hình ảnh Việt Nam và vì bức phù điêu nằm ngay vị trí của một trường đại học, thế là nhà điêu khắc lại cho gắn chồng lên trên đỉnh của cánh sen hình ảnh một ngòi bút để rồi có hai khối hình chóp chồng lên nhau khá "phi thẩm mỹ". Chi tiết này đã phá hỏng vẻ đẹp hình khối tổng thể của tác phẩm trong khi công bằng mà nói, xét về chi tiết, bức phù điêu này không hề tệ. Đó là một ví dụ của tư duy sáo mòn trong nghệ thuật: bệnh sính biểu tượng.
Thỉnh thoảng ngắm nhìn những logo của mình thấy sao mà rối rắm, sao mà ngô nghê đến thế. Rối rắm vì ham hố đưa vào thật nhiều biểu tượng, ngô nghê vì tính tả thực đến độ thật thà. Hiếm thấy những logo đẹp và hiện đại. Trường phái tối giản (minimalism) LESS IS MORE vẫn còn xa lạ với số đông người Việt. Nhìn rộng ra trong kiến trúc, mỗi khi các nhà thiết kế phải thuyết minh ý tưởng về một công trình mới, vẫn hay thấy cái tính cách sính biểu tượng này. Người Việt có vẻ như thích tiểu tiết hơn là tổng thể, (thế nên mới có chuyện nhìn từng ngôi nhà riêng lẻ thì đẹp mà nhìn cả khu vực thì chẳng ra làm sao), thích cái suy nghĩ nhìn vào công trình là phải thấy ra đóa sen, nón lá, đầu rồng... Chọn biểu tượng chẳng có gì sai nhưng việc gượng ép đưa vào để cố thuyết phục người khác lại là rào cản của sự sáng tạo. Mặc dù công trình tòa nhà Bitexco ở Sài Gòn được nói nhiều, nhắc nhiều nhưng trong mắt tôi, nếu chỉ xét về mặt hình khối thôi, (vì tôi cũng chưa có dịp được thấy tận mắt) thì tôi không nhìn ra búp sen như các nhà thiết kế diễn giãi, mà tôi thấy giống búp măng hơn.
Mà sao cứ lại phải cố là búp sen nhỉ. Hãy là một hình khối đẹp là được rồi...
Sẽ bổ sung hình ảnh nhà hàng nổi sau khi công trình hoàn thành.
Posted at 07:16 AM in Arts | Permalink | Comments (3)
Trong khi dọn dẹp lại laptop, thấy mấy bức ảnh chụp gánh đậu hũ xứ Huế vẫn còn giữ nguyên nét xưa nên post lên cho mọi người xem. Nhớ lần đi Đà Lạt, ăn đậu hũ ở thác Cam Ly, nhìn hũ đậu đã được thay bằng cái xô nhựa màu sắc sặc sỡ mà thấy mất ngon. (Thật ra cảm giác của tôi lúc ấy là shocked, vì trong tưởng tượng của tôi, chưa bao giờ có hình ảnh ấy).
May mà ở Huế, hình ảnh ấy vẫn còn nguyên vẹn...
Giải thích thêm cho những ai không còn được thấy cảnh này. Cái tủ nhỏ bằng gỗ có nhiều tầng đựng chén muỗng, các thứ phụ trợ như đường, chanh... và thau nước rửa. Đậu hũ được chứa trong cái ghè bằng dất nung màu nâu, đã bị lớp bọc bên ngoài che khuất. Lớp vỏ bọc tự chế này là để giữ nóng cho đậu hũ bên trong. Nếu món này ở trong Nam ngoài Bắc ăn với nước đường và gừng, thậm chí nghe nói có khi còn thêm đá lạnh và nước cốt dừa như ở trong Nam, thì ở Huế vẫn trung thành với phong cách đơn giản và chân phương là đường cát trắng và vài giọt chanh...
Posted at 10:55 PM in Food and Drink, Picture Talks | Permalink | Comments (7)
Hồi ở Mỹ, tôi may mắn được học hai lớp với giáo sư Vivien Zamel, một chuyên gia có tiếng về process writing và phải thừa nhận rằng những lớp đó đã khơi lại cảm hứng viết lách trong tôi và cách dạy rất riêng của cô cũng ảnh hưởng nhiều đến việc dạy học của tôi sau này, đặc biệt là các lớp Viết (Writing). Mỗi tuần, chúng tôi phải đọc rất nhiều bài báo và viết phản hồi; cuối học kỳ thì đóng lại thành tập và nộp để chấm điểm. Tuy vậy, ai muốn nộp bài hàng tuần cũng được. Vốn siêng năng và cũng thích viết lách nên tuần nào tôi cũng có bài nộp cho cô đọc. Nhưng có một lý do khác nữa, đó là vì tôi rất háo hức muốn đọc những nhận xét của cô trong mỗi bài viết. Cứ thế, mỗi tuần, tôi đều đặn có bài nộp để đến buổi học tiếp theo, được nhận lại những dòng phản hồi và say sưa đọc. Và trong quá trình này, tôi tình cờ nhận ra một điều khá thú vị. Đôi khi trong bài viết của mình có đề cập đến những chi tiết, ý tưởng, hình ảnh rất quen thuộc, đậm chất văn hóa Việt mà mình tâm đắc nhưng thấy cô chẳng để ý gì đến chúng mà tỏ ra rất quan tâm đến những chỗ khác. Thì ra, những hình ảnh đó, trong mắt của một người phương Tây, không có ý nghĩa gì nhiều, hoặc giả họ không hiểu những khái niệm hay hình ảnh đó vì chúng vốn rất xa lạ với họ... Click on the pix the see its larger version/ Nhấp chuột vào hình để xem phiên bản lớn hơn.
Dạo sau này, thình thoảng điện ảnh Việt Nam cũng có gởi vài phim dự giải giải Oscar và nói vui vui là "rớt ngay từ vòng gởi xe." Mà thật ra, ngay cả những đạo diễn của các phim được chọn đó cũng không mấy mặn mà với cuộc thi và thừa nhận rằng chuyện được giải là một giấc mơ xa vời. Việc phân tích, mổ xẻ để tìm nguyên nhân thì xin dành cho các nhà chuyên môn và những nhà sản xuất. Ở đây, tôi chỉ nêu lên suy nghĩ của riêng mình tập trung vào khâu chọn phim tham dự, nghĩa là liên quan trực tiếp đến những người tuyển chọn phim gởi đi thi, chứ không phải những người làm phim. Việc chọn những phim mang đậm bản sắc dân tộc không có gì sai vì chúng khẳng định bản sắc của chúng ta, đó là cái riêng, cái độc đáo của một nền văn hóa. Thế nhưng đôi khi, những cái khác biệt, vốn rất tiêu biểu và đặc trưng của chúng ta đó lại không nhận được nhiều như mong đợi sự đồng cảm và chia sẻ của người khác, đơn giản vì họ không hiểu và không quen thuộc với những cái đó. Có chăng trong một vài trường hợp, chỉ là khơi dậy sự tò mò, hứng khởi trong chốc lát trước những cái lạ của một miền đất khác, văn hóa khác. Tương tự như vậy với đề tài lịch sử. Một sự kiện lịch sử của một triều đại cụ thể nào đó có thể có ý nghĩa rất to lớn đối với một đất nước, một dân tộc nhưng còn đối với cả thế giới thì lại xa lạ. Những cái tựa như Khát vọng Thăng Long, Long Thành cầm giả ca, Áo lụa Hà Đông… đôi khi ngay cả vài người Việt khi nghe còn không hiểu được ngay nữa, huống gì là người nước ngoài, đơn giản vì những câu chuyện đó mang ý nghĩa trong phạm vi một đất nước, một vùng đất, một địa phương.
Chỉ khi nào những tác phẩm điện ảnh gởi đi dự thi của ta động chạm đến những đề tài đương đại mang tính phổ quát của nhân loại thì người ta mới hiểu hết, mà có hiểu thì mới chia sẻ và đồng cảm...
Posted at 08:28 AM in Arts, Film | Permalink | Comments (4)
Những người yêu cỏ cây đến Huế, đi dạo trên những con đường nhiều cây xanh trong thành phố bỗng một hôm nhận ra thành phố có vẻ như thoáng hơn, sáng ra và... xấu đi. Đó là vì những hàng cây chạy dọc hai bên đường tuyệt đẹp, từng là vốn quý của Huế bỗng trở nên dị dạng, mình đầy thương tích do bị chặt cành, mé nhánh một cách không thương tiếc , nhìn rất tội nghiệp. Hãy ngước mắt lên mà xem, những cành cây khẳng khiu bị chặt vươn lên trời như van xin, những thân cây thẳng đuột, thiếu sức sống, mất cân bằng và việc tàn tạ, chết dần chết mòn là điều khó tránh khỏi. Chuyện đó xảy ra kể từ ngày thành phố xuất hiện những chiếc xe chặt cây.
Huế nằm trong vùng đất hay bị gió bão nên chuyện cắt tỉa cành khô trước mùa mưa bão là cần thiết để bảo đảm an toàn cho người dân đi lại trên đường. Đó là chưa kể đến việc cần phải mé nhánh ở một vài nơi để giữ tầm nhìn thông thoáng cho giao thông và tránh tổn hại đến hệ thống dây điện và viễn thông. Nhưng chặt cây thoải mái đến độ vô tư như thế thì lại là chuyện cần xem lại. Cây cổ thụ không phải là hoa hồng phải tỉa cành để cây đâm chồi mới và ra hoa. Phải mất hàng năm trời để cây hoàn chỉnh một nhánh mới. Nhưng chỉ một nhát cưa, trong tích tắc những nhánh cây sụp đổ. Tự nhiên vốn rất công bằng và cân bằng, cứ một nhánh bên này thì lập tức có một nhánh đối xứng bên kia để cây có thế đứng vững chãi và dáng hình cân đối, nếu bị can thiệp thì cây trở nên què cụt ngay. Một cơ thể sống bị chặt hết tay thì sống ra sao?
Ngày trước Trịnh Công Sơn viết Mưa hồng có câu "hàng cây lá xanh gần với nhau..." Hình ảnh đó sẽ trở thành dĩ vãng với tốc độ chặt cây theo tôi là kinh hoàng như hiện tại. Các đoàn làm phim Việt Nam dạo sau này rất hay quay ngoại cảnh một ở con đường tuyệt đẹp ở khu Phú Mỹ Hưng ở Sài Gòn. Vì sao thế, xin thưa vì ở đó có hai hàng cây giao nhau tạo nên một mái vòm rất đẹp dù là một con đường mới và hai hàng cũng mới trồng sau này. Còn những con đường kiểu như thế vốn có từ lâu ở Huế thì lại đang dần mất đi vì những chiếc xe chặt cây đó.
Lại nữa, cây cối, đặc biệt là cây cổ thụ chính là nhân chứng cho lịch sử lâu đời của một thành phố, một vùng đất. Vậy cho nên, một trong những cách xác định niên đại của một thành phố là tính tuổi của những cây cổ thụ ở đó. Nếu không cẩn trọng, rồi đây Huế sẽ chỉ còn những cây nhỏ mởi trồng mà thôi. Người dân Huế vốn rất yêu thiên nhiên, cây cỏ, người ta sống hòa thuận với thiên nhiên và với họ những danh hiệu to tát chưa chắc đã có ý nghĩa bằng danh hiệu "thành phố của cây xanh", "thành phố vườn" hay sau này là"thành phố xanh, sạch đẹp". Bởi những cái đó quyết định nhiều đến chất lượng sống của con người. Tôi có người quen sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn hiện sống ở Mỹ, trước đây chưa một lần đến Huế và khi về thăm quê, lần đầu tiên về Huế, điều ngạc nhiên (và khen ngợi) đầu tiên về Huế không phải là những công trình kiến trúc hay lịch sử mà là những con đường viền cây ("tree-lined boulervards") . Với tình hình hiện tại, danh xưng đó e rằng một ngày không xa phải nhường lại cho một nơi khác. Hãy nhớ rằng mình trồng cây thì người ta cũng trồng cây. Mà biết đâu ở nơi khác việc trồng cây không đi đôi với việc chặt nhiều như mình...
Posted at 01:21 AM in Gossips | Permalink | Comments (3)
Rarely was there a sculptor who, though not a native of Hue, donated three of his best pieces of art to the city.
Le Thanh Nhon was born atThu Dau Mot in Binh Duong Province. He graduated from Gia Dinh College of Art then taught art in Saigon, Hue and Nha Trang before moving to Melbourne, Australia in 1975. During his time of teaching at College of Art in Hue, he fell in love with the city that he called his second home.
The Buddhist Center of Lieu Quan is located on Le Loi St., one of the most beautiful streets in Hue with a high concentration of cultural constructs. Though rather small, the 2-storey building serves as a meeting place for Buddhism followers in Hue and now and then hosts cultural activities. In front of the building stands the statue of Bodhisatta by Le Thanh Nhon. The statue is small but perfectly fits the size of the building. Bodhisatta is a sacred character but Nhon was successful in putting life to his sculpture.
Probably his most well-known statue is the one of Phan Boi Chau. This statue, made of bronz, was finished with the support and the financial contribution from artists and intellectuals in Hue. However if you believe in fate then this is really an ill-fated statue. After its completion at Phuong Duc, an area well known for its traditional career of welding, the statue has been put in "a right place but wrong location." I said "right place" because it is in Phan Boi Chau's original house in Ben Ngu where lays his grave but "wrong place" because this statue is too big for such a space. The statue, though very impressive, lacks a good background. Despite criticism from experts and Hue people, nothing had been done for a long time.
A conference was eventually held just to find a right place for the statue. The piece of land near Truong Tien Bridge where Hue Radio and Brocasting Station used to be was chosen. But to their disappointment, years passed but nothing happened. When I'm writing this piece, the pedestal for the statue is being built but I can't say yet exactly when the statue would be moved there, which also means I owe you readers a picture of the statue at the new site. Tens of years just to move a statue to its suitable place; what a shame!
But there is another statue that found its way to Hue successfully last year. That's the statue named The Vietnamese Girl, (also known as The Vietnamese Mother.) The statue was originally made in Saigon and was ignored in a kindergarten. Before his death, Le Thanh Nhon wrote to a friend in Hue expressing his desire to have his piece of art displayed in Hue near Huong River. The Vietnamese Girl is now standing right in the park facing Hai Ba Trung, the well-known high school just for girls only in the past known as Dong Khanh.
When the statue of Phan Boi Chau is finished at the new location, visitors to Hue will be able to walk a small Le Thanh Nhon sculpture tour along Le Loi Street.
Afterwords
Trong việc quy hoạch đô thị, có những ý tưởng hay, độc đáo làm cho người ta khấp khởi chờ đợi nhưng cũng có ý tưởng làm cho người yêu nghệ thuật lo lắng, nếu không nói là sợ hãi. Và ý tưởng lập một vườn tượng ở Huế là điều làm tôi sợ hãi...
Mọi người sống ở Huế đều biết sông Hương đẹp vì tự thân nó đẹp nhưng cũng sẽ không ai phản đối nếu nói rằng vẻ đẹp đó còn được tăng lên một phần là nhờ vào những mảng xanh chạy dọc hai bờ bắc nam. Khi quy hoạch đô thị, các thế hệ trước đã rất chí lý khi coi trọng và chăm chút hai mảng công viên này. Sau này, có một thời gian, phần công viên trước Đại học Sư phạm bị bỏ quên, cây cối rất thưa thớt nên nắng chang chang vào mùa hè và lầy lội vào mùa mưa. Lúc ấy khắp công viên chẳng biết từ đâu bỗng hiện lên những tảng đá lớn, cỏ mọc um tùm. Thời ấy, công viên chẳng có ai lui tới, thậm chí người ta còn sợ bước vào đó và trở thành nơi tập quân sự của sinh viên trường Sư phạm. Chính Trại điêu khắc quốc tế được tổ chức vào dịp Hue Festival đã hồi sinh phần công viên này. Các tác phẩm điêu khắc để lại đã kéo người dân và du khách trở lại công viên. Và từ đó, người ta cũng chăm sóc công viên này kỹ lưỡng hơn.
Vì thế cho nên tôi rất sợ cái ý tưởng tập trung các tượng của các trại điêu khắc và đem nhốt vào vườn tượng. Một ví dụ nhãn tiền là những bức tượng trong khu vui chơi Thủy Tiên trên vùng đồi Thiên An. Trong khi những trại điêu khắc quốc tế được tổ chức vào các dịp Festival Huế qua đi và để lại những tác phẩm nghệ thuật, dù chất lượng không đồng đều, nhưng rõ ràng chúng đã làm đẹp cho những công viên hai bên bờ sông Hương rất nhiều và ngày càng phát huy tác dụng tích cực cho hình ảnh của Huế thì Trại điêu khắc tổ chức tại khu vui chơi Thiên An hầu như rơi vào quên lãng, chẳng có du khách nào lên đó để ngắm những bức tượng bị giam hãm. Hồ Thủy Tiên vốn là một thắng cảnh thiên nhiên "trời ban" cho Huế, vốn từng là nơi cắm trại và picnic cho mọi người dân giờ trở thành chốn đìu hiu. Học sinh sinh viên Huế bị tướt đi một nơi cắm trại lý tưởng, du khách đến Huế mất một thắng cảnh sáng giá. Giờ đây đến những dịp cần đi cắm trại, sinh viên và học sinh Huế thường phải cắm ngay trong trường mà chắc chắn 10 người thì có đến cả mười lắc đầu kêu "Chán." Khi thiên nhiên bị con người can thiệp mọt cách thô bạo thì cái giá phải trả đắt như thế đấy.
Click vào đây để đọc thêm bài Niềm vui trên phố
Posted at 02:16 AM in Arts, Still Life | Permalink | Comments (3)
Huế những ngày cuối năm mưa lăn tăn, ướt át và lạnh lẽo, rất phù hợp với những đĩa nhạc cổ điển réo rắt. Bỗng nhớ đến một câu hỏi từ lâu muốn nói mà chưa có dịp. Hỡi những nhạc sĩ Việt Nam đương đại, những giai điệu đẹp bây giờ nơi nao?
Không, tôi không hề có ý so sánh vì sự so sánh đó khập khiểng quá. Chỉ là bởi vì mới nghe lại những giai điệu quá đẹp của nhạc cổ điển khiến tôi liên tưởng mà thôi...
Mua mới cái đĩa gốc về nghe, tôi vẫn thường có thói quen chọn ra bài hay nhất. Có khi nghe hết cả đĩa chỉ chọn được một bài,nhưng cũng thấy an ủi vì dù sao cũng có được một bài như ý. Vậy mà thời gian sau này, trước khi mua một cái đĩa nhạc, tự nhiên lại thấy đắn đo, lò dò lên mạng nghe thử rồi mới quyết định. Giá cả một chiếc đĩa gốc hiện nay cũng không hề rẻ nếu so với mặt bằng khi mà đĩa nhái chất lượng không thua là mấy đầy rẫy trên thị trường. Nhưng thật ra, chuyện đó không phải là điều quá bận tâm với những người trót mê nhạc nhưng điều mà người ta sợ là rước về cái đĩa để rồi rơi vào cảnh vứt đi thì tiếc mà giữ lại cũng thấy phiền. Giật mình nhận ra một điều rằng rất nhiều đĩa nhạc gần đây nghe xong chẳng chọn được bài nào hết. Nói thế này chắc làm phiền lòng nhiều vị nhạc sĩ nhưng đành tạ lỗi vì chẳng thể nói khác. Hình như ngày nay người ta quá chú trọng vào tiết tấu mà quên đi giai điệu. Tại sao nhạc Beatles đã cũ mà nghe vẫn hay? Đó là vì những giai điệu tuyệt đẹp. Nếu tiết tấu, lời nhạc là phần xác thì giai điệu chính là phần hồn của bài hát. Vậy mà hình như, nhiều nhạc sĩ thời nay lại quên...
Posted at 02:09 AM in Arts, Music | Permalink | Comments (5)
Ngày cuối năm xem TV, trong một talk show, thấy chia sẻ với ý kiến của một khách mời là ca sĩ nhân nhắc đến chuyện ầm ỉ năm rồi, đó là những"thảm họa âm nhạc."
Gần đây, internet đã trở nên một kênh thông tin có tốc độ lan truyền và tầm ảnh hưởng nhanh đến chóng mặt và cũng vì thế tạo điều kiện cho những sản phẩm kỹ thuật số ra đời. Mọi người ai cũng có thể ra album và phát hành album, không chính thống thì online. Và nhiều sản phẩm bị giới chuyên môn, người nghe và đặc biệt là cánh nhà báo dán nhãn"thảm họa âm nhạc."
Dạo này, giới truyền thông có vẻ như đang lạm dụng hơi thái quá từ ngữ của người khác, những câu chữ nghe qua là biết do dịch hoặc nhại lại từ báo chí nước ngoài, vốn gốc là từ tiếng Anh, khi dịch sang tiếng Việt lại được "Hán hóa" thêm một lần nữa để tạo nên những từ, cụm từ rất "kêu" mà giới trẻ thì hào hứng, còn những người không còn trẻ thì bối rối vì không hiểu muốn nói gì. Những mỹ từ như hot boy, hot girl, bộ tứ quyền lực, ca sĩ nhà họ X... chẳng qua là sự rập khuôn ngôn ngữ khác và được sử dụng như trò chơi chữ của giới truyền thông.
Trở lại cái gọi là "thảm họa âm nhạc. Thật ra, đứng ở góc độ người thưởng thức âm nhạc, những chuyện đó chẳng ảnh hưởng gì nhiều đến tôi, đơn giản vì tôi không nghe loại nhạc đó. Mà nếu có vô tình nghe thì cũng chỉ thoáng qua như nước chảy lá môn mà thôi, trôi tuột và không đọng lại chút gì. Cứ xem chúng như là những âm thanh thường tình của cuộc sống mà hàng ngày ai cũng có nghe, dù muốn dù không. Cuộc sống vốn muôn màu và sở thích hay gout nghệ thuật của công chúng thì vô cùng đa dạng. Đi tranh cãi về taste nghệ thuật thì xem ra lãng xẹt, "One man meat is another man's poison." Nghệ thuật có quy luật đào thải riêng của nó và cứ để cho chính quy luật đó điều chỉnh; những gì lố bịch sẽ tự nhiên mà biến mất. Chỉ có nghệ thuật đích thực mới tồn tại với thời gian mà thôi. Điều mà chúng ta phải làm là, thay vì lên án hay kết tội... thì mọi người hãy chung tay hình thành một tư duy nghệ thuật cho giới trẻ. Nghệ sĩ thì tạo ra những tác phẩm thật sự có giá trị, các nhà giáo dục và phụ huynh thì nên coi trọng việc giáo dục thẩm mỹ cho thế hệ trẻ ngay từ lúc mới chào đời, trước hết là trong gia đình, rồi đến nhà trường và những nơi công cộng và rồi những "thảm họa âm nhạc", nếu có, sẽ tự nhiên mà biến mất. Việc những sản phẩm như thế xuất hiện ngày càng nhiều trong thời gian gần đây chẳng phải tự nhiên mà có. Phải chăng vì trong một thời gian dài, chúng ta, trong đó có những nhà giáo dục và các bậc phụ huynh, lơ là việc dạy cách hưởng thụ nghệ thuật cho trẻ con. Ở Việt Nam, hiếm khi thấy phụ huynh đưa con nhỏ đến viện bảo tàng hoặc các phòng tranh để chúng làm quen với nghệ thuật, hiếm khi những nơi công cộng mở nhạc cổ điển, việc giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường thì khá qua loa...
Một chuyện khác, trong giới nghệ sĩ nói riêng, và suy rộng ra trong mọi giới, thường xảy ra trường hợp những người được đào tạo chính thống trong các trường nghệ thuật thường lấy điều đó để "dè bỉu" những người không học chính quy. Đương nhiên tôi không phủ nhận nếu được học một cách bài bản, ca sĩ sẽ biết hát thế nào cho hay. Nhưng cũng nên hiểu rằng, nghệ thuật là một lĩnh vực đặc biệt và không phải những người không học trường lớp thì không thể hát hay và trường học cũng chẳng chẳng phải là nơi duy nhất nghệ sĩ học. Trên thế giới có biết bao nhiêu nghệ sĩ lỗi lạc không xuất thân trường lớp mà thật ra chuyện đó người nghe không quan tâm lắm đâu. Vì thế, dù chẳng quan tâm gì đến cái được gọi là thảm họa đó, vẫn rất tâm đắc với ý của ca sĩ Hà Anh Tuấn trong talk show nói trên. Sau khi nhạc sĩ Hồ Hoài Anh vừa đấm vừa xoa phát biểu theo kiểu bề trên rằng "Dù Hà Anh Tuấn không được đào tạo bài bản nhưng hát được những bài hát khó..." thì liền sau đó, có thể vô tình chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi ca sĩ đã "đáp trả" một cách chí lí rằng "Âm nhạc thì thích thì nghe, chứ không phải đúng mới nghe."
Trong trường hợp này, Hà Anh Tuấn nói chính xác đấy...
Posted at 10:01 PM in Gossips, Music | Permalink | Comments (3)
Sài Gòn náo nhiệt đến ồn ào, Sài Gòn kẹt xe, Sài Gòn ô nhiễm... Vậy mà tôi vẫn yêu Sài Gòn, và Sài Gòn vẫn là thành phố tôi thấy háo hức mỗi khi có dịp quay lại...
Nếu nói đến Sài Gòn để hưởng thụ thiên nhiên thì chắc chẳng có gì nhiều để kể nhưng thành phố này có một sự cuốn hút mãnh liệt rất khó diễn tả bằng lời. Phải chăng vì Sài Gòn phóng khoáng, cởi mở và vị tha. Sài Gòn tiếp nhận tất cả và dung hòa tất cả. Và trên hết thảy, Sài Gòn luôn trẻ và đầy sức sống.
Cũng vì yêu mến vùng đất này mà dù không sinh ra và lớn lên ở đó, tôi đã là một trong những độc giả đầu tiên đặt mua dài hạn tờ tạp chí Saigon City Life chuyên viết về Sài Gòn. Đó cũng là lần đầu tiên Việt Nam có một cái gọi là urban magazine đúng nghĩa. Rủi thay, (và cũng không hiểu tại sao,) ấn phẩm này ngày ấy, dù khá ấn tượng và khác biệt đã không sống được lâu. Thế nhưng, những cây bút thường viết về thành phố này thì vẫn không thể vì điều đó mà ngừng viết và kết quả là bộ sách bỏ túi Sài Gòn Tạp văn ra đời (pocket book, chứ không phải book pocket như được in trong lời nói đầu của tập sách,) tập hợp những bài viết về Sài Gòn đã từng xuất hiện trên tạp chí và những bài viết khác...
Như một lẽ thường tình, khi cuộc sống ngày càng nhanh, con người ngày càng bận rộn thì thể loại tạp văn, viết ngắn, ký... lại trở nên ăn khách hơn, thời thượng hơn là những tiểu thuyết dày cộm. Và cũng dễ hiểu khi Sài Gòn là nơi thể loại này phát triển và thịnh hành hơn cả.
Bộ sách là những lát cắt của cuộc sống đô thị. Mỗi bài viết là một góc nhìn khác nhau, một hình ảnh khác nhau, một giọng điệu khác nhau, thoạt nhìn có phần hơi rời rạc, thế nhưng đứng cùng nhau lại tạo thành một bức tranh đa sắc của Sài Gòn. Có thể bạn đọc khó tính sẽ không tìm thấy những bài viết đủ sâu sắc và ám ảnh trong bộ sách này, có thể đọc xong là quên ngay sau đó nhưng lâu lâu lại muốn tìm đọc lại như là một phát hiện mới về Sài Gòn. Hoặc giả như bạn sắp hay đang du lịch Sài Gòn, lướt qua bộ sách này cũng là điều thú vị.
Và một điều nữa, tôi nghĩ, và mong rằng biết đâu những cuốn sách kiểu bỏ túi nho nhỏ, gọn gàng, xinh xinh như thế này một ngày nào đó có thể đẩy lùi những chiếc điện thoại di động suốt ngày lăm lăm trên tay giới trẻ Việt ngày nay, đặc biệt ở những nơi công cộng như sân bay, nhà ga giữa những chuyến đi...
Mà nếu được vậy thì cũng tốt...
Posted at 02:22 AM in Books | Permalink | Comments (3)
Recent Comments