Tôi đang đọc Độc đáo ẩm thực Huế, một cuốn sách được biên soạn công phu, trình bày bắt mắt và khá trang trọng. Đặc biệt hơn, sách được xuất bản với chủ đích tốt đẹp và có phần tham vọng là làm tiền đề và cơ sở lý luận cho dự án Bếp Việt, "cùng nhau xây dựng Bếp Việt cho thế giới" và hướng đến chuẩn bị hồ sơ cho ẩm thực Huế trở thành di sản phi vật thể thế giới...
Thiết nghĩ cũng chính vì mục đích tốt đẹp ấy, thông tin chính xác phải là một điều kiện bắt buộc. Với bài viết sơ lượt này, tôi không hề có ý định phê bình hay "vạch lá tìm sâu" mà chỉ góp một tiếng nói như là một phản hồi nho nhỏ mang tính cá nhân của một người Huế hay đọc sách, thích quan sát, thích tìm hiểu và đương nhiên, thích ăn ngon, để những ai quan tâm hiểu thêm về nghệ thuật ẩm thực của Huế. Ngoài ra, mượn cuốn sách này làm một cái cớ để nói vài điều với những tác giả viết về ẩm thực.
Trong bài Triết lý ẩm thực của người Huế, tác giả Bùi Minh Đức có trích lại một đoạn văn khá chí lí của Hoàng Phủ Ngọc Tường bàn về sự điều hòa âm dương, ngũ hành trong món ăn Huế. Khi đọc đến đoạn nói về dĩa rau sống của người Huế thì quả thực cảm nhận ngay tức thời của tôi là bối rối. Tác giả nói rằng trong đĩa rau sống của người Huế có đủ các vị, vị cay của bạc hà, chua của khế, đắng của chuối chát, mặn của nước mắm, ngọt của quả vả. Bối rối vì khi nghe hai chữ bạc hà,như một lẽ tự nhiên, tôi nghĩ ngay đến loại môn bạc hà mà người Huế thường thêm vào đĩa rau sống ăn kèm với các món như canh hến, cơm hến hay món rạm kho... Loại môn bạc hà này ngoài Bắc người ta gọi là dọc mùng. Rõ ràng, môn bạc hà này không có mùi gì cả, chỉ xôm xốp, dòn dòn mà thôi. Vị cay của bạc hà được nói đến ở đây làm cho những ai có biết đôi chút về ẩm thực phương Tây nghĩ đến loại mint, vốn xa lạ với ẩm thực Việt. Bối rối là bởi vì tôi không nghĩ một nhà văn viết về Huế tầm cỡ như Hoàng Phủ lại có thể nhầm lẫn như vậy được và quả thật đúng như thế. Cẩn thận tra cứu, dò tìm và rốt cuộc tôi khám phá ra rằng hình như tác giả đang nói đến loại rau húng, một loại rau mùi khá đặc biệt thường có mặt trong đĩa rau sống của người miền Trung. Qua đó, chợt nghĩ rằng khi viết về các nguyên liệu trong ẩm thực, cần lưu tâm đến những tên gọi địa phương nữa, nếu không, có khi bài viết trở thành vô ích, đặc biệt là các recipe (công thức nấu ăn). Những ai học nấu ăn qua sách vở, báo chí chắc không ít lần bối rối, nếu không nói là bực mình, vì không biết thứ nguyên liệu được đề cập đến là thứ gì vì những cái tên lạ hoắc, xét về mặt hiệu quả, bài viết xem như bằng không, đó là chưa kể đến tai hại nếu người thực hành chọn nguyên liệu sai do sự khác biệt trong tên gọi giữa các vùng miền. Nếu các tác giả viết về ẩm thực lưu ý đến vấn đề này thì ít ra cũng làm cho những độc giả như tôi tránh được sự bối rối nói ở trên...
Điều đó được minh chứng trong một công thức nấu ăn in trong tập sách. Trong phần nguyên liệu, tác giả nhắc đến tên đậu hũ. Nghe cái tên này, người Nam thì biết đó là cái gì ngay, nhưng với người Huế thì điều này có thể gây nên một hiểu lầm nghiêm trọng. Cái thứ mà người Nam gọi là đậu hũ đó, ở Huế, người ta gọi là khuôn đậu, hay đậu khuôn. Tai hại hơn, ở Huế, cái tên đậu hũ lại có nghĩa là món tào phớ trong Nam. Tưởng tượng mà xem, biết đâu có một độc giả người Huế nào đó cứ bám theo công thức trong sách mà nấu với đậu hũ ở Huế thì chẳng biết sẽ được món gì đây...
Cũng trong tập sách, món mực trộn thanh trà, một món ăn độc đáo và "quái chiêu" của Huế được nhắc đến hai lần trong đó, có một lần được viết là gỏi bưởi (và công thức nấu món này cũng khác lệ thường.) Viết như thế là thiếu chính xác vì người Huế khi làm món này, chẳng ai dùng bưởi để trộn mực cả. Tưởng tượng, nếu vì một lý do nào đó phải dùng bưởi thay thế thì món ăn sẽ có vị đăng đắng kém ngon. Mặc khác, nói như thế là vô tình hạ thấp giá trị của trái thanh trà đặc sản xứ Huế, mội loại trái mà theo cảm nhận của riêng tôi, chất lượng hơn hẳn các loại bưởi có tiếng như bưởi Biên Hòa, bưởi năm roi, v.v. Nói khác đi, trái thanh trà của Huế ở một đẳng cấp khác, đơn giản vì bưởi vẫn là bưởi và thanh trà là thanh trà. Đến đây cũng cần nói rõ là trái thanh trà ở Huế chẳng bà con họ hàng gì với một loại trái khác mà trong Nam người ta cũng gọi là thanh trà đâu nhé. Món mực trộn thanh trà xứ Huế nhất thiết phải là trái thanh trà, vốn chỉ có ở Huế mà thôi, chỉ có trái thanh trà khi chế biến xong mới đủ độ dòn mà không bị mềm nhũn như bưởi, ngọt thanh vừa đủ mà không bị đắng hay ngọt lự như một vài loại bưởi, ráo mà không ướt như bưởi. Đó mới là cái đặc biệt của thanh trà mà không có loại bưởi nào có thể thay thế trong món ăn này. Chính vì trái thanh trà chỉ có ở Huế, cho nên món mực trộn thanh trà cũng là món chỉ có độc nhất ở Huế mà thôi.
Một lần lang thang trên mạng, tôi bỗng phì cười khi đọc đến đoạn một du khách ngoài Bắc viết rằng ở Huế có nhiều loại chè trong đó có món chè hẽm. Tương tự, có thực khách lần đầu tiên thăm Huế ra chợ Đông Ba ăn chè và dõng dạt gọi "Cho một ly chè hẽm." Người dân địa phương thảy đều biết một quán chè rất nổi tiếng ở Huế, vì nằm trong hẽm (kiệt) nên được đặt tên là chè Hẽm, (cũng là gia đình của một người bạn học cũ của tôi.) Rõ ràng, đó là tên một quán chè, chứ hoàn toàn không phải là tên của một món chè. (Dù sao, điều đó cũng cho thấy quán chè này quá nổi tiếng.) Đọc, cười một lát rồi cũng quên khuấy đi. Đến khi đọc bài bày công thức làm bánh khoái in trong tập sách này thấy tác giả ghi tên món ăn là bánh khoái Thượng Tứ thì bỗng hiểu ra rằng à thì ra có những bài viết như thế này đã góp phần gây ra hiểu lầm đáng tiếc đó. Thượng Tứ là tên của một tiệm bánh khoái khá nổi tiếng ở Huế, đặc biệt là đối với khách Tây vì địa chỉ này được nhắc đến trong guidebook,chứ không có loại bánh khoái Thượng Tứ. Có thể tác giả chỉ vô tình hoặc muốn nhấn mạnh rằng công thức này là của tiệm Thượng Tứ chăng, nhưng viết như vậy e rằng thiếu chính xác, dễ gây hiểu nhầm và không công bằng cho những tiệm bánh khoái khác.
Nói như thế để thấy rằng viết về ẩm thực, tưởng đơn giản nhưng hóa ra cũng cần tính khoa học và chính xác. Với các công thức nấu ăn, biết đâu có ai đó, vì khác nhau về tên gọi giữa các vùng miền mà nấu nên những món ăn chẳng giống ai. Có khi vô tình làm hỏng đi cái giá trị vốn có của món ăn đó và biết đâu vì thế mà những món ăn truyền thống có thể bị biến đổi, sai lạc với nguyên bản và dần dần thất truyền cũng nên. Tôi nhớ có lần đọc một bài báo nói về một cô chủ quán bánh canh* ở Sài Gòn bảo có người Nam vào thưởng thức món bánh canh của người miền Trung và thắc mắc sao quán không thích nghi dọn thêm dĩa rau sống ăn kèm như thói quen ăn uống của người miền Nam. Dù biết đó là sở thích của thực khách, và biết đâu nếu làm thế sẽ kéo thêm được nhiều thực khách địa phương. Thế nhưng, chị vẫn cương quyết không nghe. Chị bảo, món ăn truyền thống cần phải được giữ đúng nguyên gốc, nếu cứ mỗi lần nghe thực khách góp ý là thay đổi để chìu theo thì cuối cùng chẳng thể tưởng tượng được món bánh canh sẽ thành món gì nữa. Bâng quơ vậy thôi nhưng với tôi, chị chủ quán ấy mới là một chuyên gia ẩm thực giỏi và hơn thế nữa, một người đầu bếp có trách nhiệm...
* Tôi mới đi công tác ở Quảng Trị và Quảng Bình về, phát hiện thêm một điều thú vị nữa là món bánh canh ở Huế, ở Quảng Trị gọi là cháo bột và ra đến Quảng Bình thì biến thành cháo canh.
Đôc đáo ẩm thực Huế
Nguyễn Nhã (Chủ biên)
Nhà xuất bản Thông tấn (2011)
Recent Comments