Ghi chép từ một chuyến đi xa (13)
Click vào đây để đọc phần (1)
Click vào đây để đọc phần (2)
Click vào đây để đọc phần (3)
Click vào đây để đọc phần (4)
Click vào đây để đọc phần (5)
Click vào đây để đọc phần (6)
Click vào đây để đọc phần (7)
Click vào đây để đọc phần (8)
Click vào đây để đọc phần (9)
Click vào đây để đọc phần (10)
Click vào đây để đọc phần (11)
Click vào đây để đọc phần (12)
Chúng tôi có trọn một ngày vui chơi thoả thích ở suối nước nóng tự nhiên ở Ouray, thành phố nằm ngay cạnh Telluride, tĩnh lặng nép mình bên rặng núi San Juan, và được xem như là “Thụy Sĩ của Hoa Kỳ,” Vùng đất này đặc biệt có nhiều suối nước nóng. Ở Ouray Hot Spring, dù các hồ tắm được xây theo kiểu hồ bơi hiện đại, vẫn có vẻ hoang sơ vì vây quanh là những dãy núi đá, vốn có rất nhiều ở Colorado này. Nước nóng chảy ra từ một đài nước. Hồ tắm rộng, được chia làm nhiều khu, có khu vực nóng nhiều, khu vực nóng ít hơn. Trước chuyến đi, tôi đã có nhiều lần ghé khu tắm khoáng Mỹ An ở Huế, quen với độ nóng, nên khi đến đây có cảm giác nước không đủ nóng. Hay vì người Mỹ, quen với khí hậu ôn đới, nên như vậy là đã nóng rồi chăng? Gần cả buổi chơi đùa trong hồ bơi, ai cũng thấy sảng khoái nhưng đói meo, may là có mang theo một ít đồ ăn nhẹ. Tắm xong, chiều đến, cả đoàn lại lên xe đi ăn tối, chia làm hai
nhóm, những ai thích đồ Mỹ thì ghé vào tiệm bán thức ăn Mỹ, còn những ai thích món ăn Á thì đi quán Tàu. Tôi theo nhóm vào một nhà hàng Mỹ. Tôi không nhớ rõ tên quán, nhưng nhớ trong đó có treo rất nhiều ảnh của tài tử cinema lừng lẫy một thời John Waine. Những ai ham mê điện ảnh thuộc thế hệ trước đều biết tài tử này, nhưng trong đoàn đa số là đại biểu của thế hệ mới nên hầu như chẳng ai nhận ra. Mỗi người được tự do chọn món cho mình trong một khoảng tiền nhất định. Tôi chọn món chicken wing và một loại thức uống mang cái tên rất đặc biệt là Shirley Temple. Tôi tò mò muốn biết cái thức uống mang tên thần đồng điện ảnh của Mỹ này có vị thế nào. (Shirley Temple nổi tiếng khi còn rất bé, thường đóng trong loạt phim dành cho thiếu nhi với lối diễn xuất thơ ngây rất có duyên.) Và tôi đã không lầm, món uống pha bằng soda và hương liệu có màu sắc và mùi vị rất quyến rũ. Có một ca sĩ nhìn đã lớn tuổi, không biết chuyên nghiệp hay nghiệp dư, ôm cấy đàn ghi ta đến hát giúp vui tận bàn. Một không khí thân mật và ấm cúng. Khẩu phần ở các quán ăn Mỹ thường nhiều, người Việt mình ít người ăn hết, phải chia sẻ với người khác, mà vậy cũng hay, vì có dịp thử nhiều món khác nhau… Nhớ nhấp chuột vào hình ảnh để thấy phiên bản lớn hơn.
Tối nay đến lượt ăn tối ở nhà Judy. Judy nhờ một người bạn lái xe đến đón tôi và chị Dung tận nhà. Judy hiện đang quản lý một trung tâm dạy nghệ thuật trong thành phố. Nhà của Judy nằm không xa nhà chúng tôi ở là mấy. Trước nhà có một khoảnh đất nhỏ trồng các loại rau, không nhiều, nhưng cũng đủ cho những bữa ăn gia đình hai người. Chồng Judy làm việc cho hội chuyên tổ chức rafting (thuyền lướt sóng.) Tôi để ý khi nói về chồng mình, Judy thường rất hay dùng từ “typical.” Judy là người có tính cách rất sôi nổi và hoạt bác, thích đi đây đó, trái lại, chồng chị là một người trầm tính, hướng nội và ít giao tiếp. Con người anh toát ra một vẻ chân chất đến thật thà của những người lao động chân tay. Anh ấy hoàn toàn cự tuyệt chuyện đi lại bằng máy bay, (có lẽ vì nghề của anh gắn liền với sông nước chăng?) Thế là, mỗi khi thích đi du lịch xa, Judy thường đi một mình. Mọi người đều thấy lạ vì hai con người tính cách trái ngược nhau như thế lại có thể sống hoà hợp cùng nhau. Mà anh chàng ấy đúng là “typical” thật. Khi chúng tôi đến, anh ngồi tiếp chuyện một lát, nhưng đến giờ ăn thì bỗng biến đâu mất. Gần đến cuối buổi mới thấy anh xuất hiện, ăn qua quýt những thứ còn trên bàn. Judy chiêu đãi chúng tôi món thịt nướng, đặc biệt có món khoái khẩu là “corn on the cob”. Chỉ đơn giản là những trái bắp nấu chín, rồi phết lên tí bơ. Bắp Mỹ không dẻo như bắp ở Việt Nam nhưng bù lại, trái lớn, mềm và rất ngọt. Món salad thì đã có rau trồng sẵn trong vườn nhà. Vừa ăn xong, không hẹn mà gặp, Sally và Peter tình cờ ghé chơi. Vậy là chúng tôi có
một cuộc hội ngộ khác. Judy lấy ra cây đàn ghi-ta và tôi chơi vài bài của Trịnh Công Sơn trong khi anh chủ nhà nằm ra sàn nhà và chẳng mấy chốc ngủ thiếp đi một cách ngon lành. “Đúng là “typical” thật đấy!” tôi đùa với Judy. Chị dẫn tôi đến quầy bếp, chỉ cho thấy một đống chai lọ, nói rằng đó là những thứ thuốc mà hiện chị đang phải uống, theo lời bác sĩ. Số là một lần đi chơi ở tiểu bang khác, chị bị một loại côn trùng chích, gây nên một loại bệnh đại loại giống như bệnh malaria. Chị nói nhỏ vào tai tôi, phải mất cả ngàn đô cho đống thuốc chết tiệt đó. Bệnh này kéo dài rất lâu và thường gây ra những biến chức kỳ lạ nên phải điều trị đến nơi đến chốn, uống thật nhiều nước và nghỉ ngơi hoàn toàn. Điều này đối với Judy xem ra thật không dễ chút nào vì chị vốn là một người thích hoạt động, không muốn ngồi yên một chỗ bao giờ…
(Còn tiếp)
Recent Comments