Thủ đô nước Mỹ, chốn yên bình
Ấn tượng đầu tiên của tôi khi đặt chân đến Washington D.C. là sự quy cũ, gọn gàng trong kiến trúc. Thành phố được thiết kế hài hòa và chăm sóc công phu. Ngay từ phút đầu tiên tôi đã phải xiêu lòng. Cái quy định không một toà nhà nào trong phạm vi thành phố được xây cao hơn mái vòm của điện Capitol đã làm cho thủ đô nước Mỹ có một vẻ đẹp ngăn nắp đáng khâm phục. Đừng quên nhấp vào hình ảnh để thấy phiên bản lớn hơn.
Đây rồi chiếc cầu duyên bắt qua dòng Patomac, con sông nghe tiếng từ lâu bây giờ mới gặp. Ngồi trên ô tô nhìn ra thấy dải lụa đào duyên dáng xanh um cây cối. Cái đẹp hoang sơ dù ở chốn phồn hoa, cảnh quang thoáng đãng và giòng nước lững lờ. Ở lối lên cầu sừng sững hai bức tượng sơn son thếp vàng tuyệt đẹp. Chao ôi! thủ đô nước Mỹ êm đềm và thanh bình quá. Thành phố như một khu vườn lớn với chim chóc và cỏ cây, khác xa New York City sôi động không xa là bao.
Điện Capitol, tòa nhà quốc hội, lại cho tôi một ấn tượng khác. Toà nhà hùng vĩ có kiến trúc như một nhà thờ bề thế trên một ngọn đồi cao nhưng mái vòm và những đường cong tuyệt đẹp đã làm cho khối đá khổng lồ trở nên thanh thoát. Để vào được bên trong chúng tôi phải sắp hàng hơn cả tiếng đồng hồ vì du khách rất đông. Người ta chỉ cho phép vào từng nhóm với số lượng nhất định. Nhưng dù phải chờ lâu, chúng tôi không cảm thấy sốt ruột, bởi đứng đó có thể ngắm nhìn du khách mọi lứa tuổi đến từ các quốc gia khác nhau; còn sau lưng là con đường tuyệt đẹp với những dinh thự cũng mỹ thuật không kém và dòng người nườm nượp như trẩy hội...
Rồi cuối cùng chúng tôi cũng vào được bên trong. Nội thất có vẻ đẹp của những tòa lâu đài cổ. Lịch sử vấn vương kiêu hãnh. Nếu nhìn bên ngoài, tòa nhà có vẻ đẹp áp đảo thì bên trong lại lan tỏa sự ấm cúng của những phòng họp rộng vừa phải, trang trí đơn sơ nhưng trang trọng. Những bức tượng của các vị tổng thống đẹp như những tác phẩm mỹ thuật, các bức tranh tái hiện lịch sử đất nước được trưng bày chăm chút như trong viện bảo tàng. Đây là Thượng Nghị Viện (Senate), kia là Hạ Nghị Viện (House of Representatives), đây là chín cái ghế của chín
thành viên trong Tòa án Tối cao (Supreme Court) và đó là thư viện Congress với những chiếc đèn đọc sách màu xanh lá cây đặc trưng vv. Tất cả, tất cả những điều đọc trong sách vở đang hiển hiện trước mắt tôi...
Washington D.C. còn hào phóng ban cho du khách một loạt viện bảo tàng dọc theo một đại lộ, tất cả đều miễn phí. Có thể nói đó là những bảo tàng lớn nhất nước Mỹ. Chỉ tiếc là vì thời gian hạn hẹp, tôi chỉ có thể lướt qua một vài cái gọi là cưỡi
ngựa xem hoa. Thật đáng tiếc, cũng như tôi đã tiếc không vào được bên trong Nhà Trắng bởi hôm ấy là ngày đóng cửa thường lệ trong tuần để bảo dưỡng mà chúng tôi đã lơ đãng không tìm hiểu trước.
Những đài tưởng niệm kiêu hãnh ngẩng cao đầu. Từ đằng xa sừng sững “cây bút chì” khổng lồ tạc lên trời xanh. Kiến trúc này là đài tưởng niệm vị tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, George Washington. Dù rất đơn giản về hình
khối, sự uy nghi toát ra từ cái vẻ cao vời vợi như khát vọng vươn tới vô cùng. Đài tưởng niệm Abraham Lincoln là một toà nhà nhìn có vẻ nặng nề với những chiếc cột theo phong cách cổ điển. Ngay chính giữa là tượng của vị tổng thống gắn liền với cuộc nội chiến Mỹ và sự kiện giải phóng nô lệ đang ngồi suy tư trên ghế với khuôn mặt khắc khổ. Vởi riêng tôi, đài tưởng niệm vị tổng thống thứ ba của nước Mỹ, Thomas Jefferson, là công trình tuyệt hảo. Nếu may mắn đến thăm vào mùa xuân thì rất có thể bạn sẽ mục kích một bức tranh tuyệt đẹp khi ngôi nhà mái tròn được vây quanh bởi những hàng cây anh đào đang độ khai hoa lộng lẫy, món quà mà Nhật Bản đã tặng nước Mỹ. Cái màu hồng phơn phớt của hoa tôn lên vẻ thanh cao của đá hoa cương trắng muốt. Cuộc chiến Đại Hàn lại được nghi nhớ bởi nhóm tượng một tiểu đội binh lính cỡ bằng người thật trong tư thế tiến công. Vào mùa đông khi tuyết rơi phủ trên vai áo, các hình tượng trở nên sống động lạ thường. Tuy vậy đối với những ai yếu bóng vía thì những hình ảnh của chiến tranh đó có thể làm họ giật mình nếu đến thăm vào ban đêm. Đài tưởng niệm gây nhiều xúc động nhất lại là
Vietnam’s Memorial. Bức tường bằng đá hoa cương đen bóng có một nửa chìm dưới lòng đất khắc tên những lính Mỹ chết trận trong cuộc chiến Việt Nam. Thi thoảng du khách bặt gặp một đoá hồnh nhung đỏ thắm chơ vơ trên nền đá đen. Phải chăng đó là giọt máu con người đã đổ xuống vì chiến tranh?
Chúng tôi nghé chợ cá để mua một loại sandwich đặc biệt làm bằng cua tuyệt ngon (gọi là chợ cá nhưng có bán đủ các loại hải sản tươi sống). Lại lái xe ra bờ sông Patomac nghĩ chân nhấm nháp. Lúc ấy đã là chạng vạng tối vào một ngày hè lộng gió, trời âm u như sắp mưa, ai cũng run lên vì lạnh. Bên bờ sông là bức tượng khổng lồ của một người đàn ông đang nằm với phần thân
chìm dưới đất, chỉ thấy cái đầu và một phần chân tay mà tác giả đặt tên là The Awakening. Với tôi đó là một trong những bức tượng đẹp nhất mình đã từng thấy...
Nghĩa trang quốc gia Arlington cũng là một nơi không thể không ghé thăm. Đó là một công viên rộng lớn ngập tràn màu xanh thuộc bang Virginia nằm ngay bên cạnh Washington D.C. Ở đó bạn có thể thấy mộ của tổng thống Kennedy và phu nhân với ngọn lửa bất diệt nằm chính giữa. Ngôi mộ của một vị tổng thống lừng danh nhưng thật đơn giản như rất nhiều ngôi mộ đơn giản khác nơi đây. Có khác chăng là khu mộ nằm tách biệt ở một vị trí bao quát. Những dãy bia mộ xây cùng một kiểu giống nhau lẳng lặng xếp hàng. Sự bình đẳng thể hiện rất rõ ở chốn này. Ở đây bạn cũng có thể thấy mộ của viên kỹ sư người Pháp Pierre Charles L’Enfant, người đã có công thiết kế thủ đô. Cứ đến những giờ nhất định trong ngày, người ta lại tiến hành lễ đổi phiên gác trang nghiêm lôi kéo nhiều du khách dừng lại nhìn. Nếu may mắn, bạn có thể được nghe một dàn hợp xướng các em bé mặc đồng phục hát những khúc thánh ca thanh thoát. Tự nhiên trong lòng tôi lại vang lên một bài thơ cảm động của Langston Hughes: “We passed their graves. The dead men there. Winners or losers. Did not care. In the dark. They could not see. Who had gained the victory.” (Peace) (Tạm dịch nghĩa: Chúng tôi đi ngang qua những nấm mồ. Những người chết nằm đó. Chẳng cần quan tâm ai là kẻ thắng, người bại. Bởi vì trong bóng đêm. Họ đâu phân biệt được ai là người chiến thắng.)
Cũng có trọn một ngày đi thăm toà lâu đài của tổng thống Washington. Một buổi sáng lất phất mưa buồn đến nẫu ruột. Không khí ẩm ướt và bầu trời u ám làm cho khuôn viên tòa nhà, vốn ngập tràn cây cối, mang vẻ thâm u và bí hiểm. Để đến được ngôi nhà, du khách phải đi qua một khu đất rộng phủ cỏ xanh mướt. Đối lập
với khu nhà sang trọng là những lán trại nhỏ thiếu tiện nghi của các nô lệ thời ấy. Hiện tại người ta vẫn giữ lại những kho thóc, những khu nuôi gia súc và vẫn làm thủ công món bánh ngô để mời du khách nếm thử, loại bánh mà nô lệ vẫn ăn vào thời đó. Toà nhà chính được nối với khu bếp bằng một hành lang dài có mái che.
Trong trường hợp nhà bếp có hỏa hoạn thì dãy hành lang đó sẽ ngăn cản không cho lửa lan đến tòa lâu đài. Thức ăn được nấu ở nhà bếp rộng thênh thang và mang đến phòng ăn trong toà nhà chính.
Sẽ không đầy đủ nếu tôi không nhắc đến gia đình người bạn Mỹ mà tôi đã lưu lại trong những ngày ngắn ngủi ở DC. Gia đình chỉ vẻn vẹn ba thành viên là hai cụ già và người con. Đó là một toà nhà xây bằng gạch đỏ cổ kính gồm hai tầng và một tầng hầm. Tôi được ưu tiên ở dưới tầng hầm. Nói là ưu tiên bởi nơi đó được bố trí như một tầng nhà, nghĩa là cũng có đủ phòng khách, phòng đọc sách, phòng ngủ và phòng tắm riêng. Gia đình bạn đón tôi bằng một bữa ăn tối với món pasta kiểu Ý trong phòng ăn ấm cúng ánh đèn vàng lãng mạn và chùm đèn cầy le lói trên bàn. Cái không khí trang trọng trong bữa ăn ở đây chứng tỏ đó là một gia đình quý tộc. Phòng ngủ dành cho tôi đã được trãi drap trắng vuốt thật thẳng. Tối cuối cùng khi về đến nhà, vào phòng, tôi thấy áo quần mặc mấy ngày qua của mình đã được giặt sạch sẽ và là phẳng phiu để ngay ngắn trên giường. Lúc ấy đã khuya và cả hai ông bà đều đã ngủ nên mãi đến sáng sớm hôm sau khi nói lời từ biệt, tôi mới có dịp cám ơn về những điều tốt đẹp mà gia đình đã dành cho mình, không quên nhắc đến việc giặt là quần áo. Thật cảm động khi nghe bà trả lời “Nếu như có mẹ con ở đây thì chắc chắn bà ấy cũng sẽ làm như thế thôi.” Câu nói đó đến giờ tôi vẫn còn nhớ và là nguồn an ủi trong những tháng ngày sống một mình nơi xứ người...
Tôi trở về Boston bằng tàu lửa Amtrack. Bạn tiễn tôi ra tận sân ga. Một lần nữa tôi lại bị nhà ga trung tâm hớp hồn. Đó không đơn thuần là một nhà ga xe lửa mà là một tác phẩm nghệ thuật. Tôi rời thủ đô mà lòng vấn vương ngày trở lại để có thể biết thêm, hiểu thêm nhiều hơn nữa về cái thành phố duyên dáng này.
Muốn tìm hiểu một phần lịch sử nước Mỹ, hãy đọc Plymouth và món tôm hùm nổi tiếng, đặc sản của Massachusetts












Và rồi cuối cùng Tuấn Ngọc đã xuất hiện trên sân khấu của DDVN, vẫn say đắm và lịch lãm như mọi ngày. Nhưng ngay khi anh cất lên câu hát đầu tiên của bài Em ơi Hà Nội Phố, một nỗi buồn và hụt hẫng xâm chiếm lòng tôi. Tôi giật mình nhận ra rằng thời gian thật tàn nhẫn. Thế là hết, thời của những Tâm Sự Gởi Về Đâu, Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa, Kiếp Dã Tràng; còn đâu Ngày Tháng Sáu, Khúc Tháng Hai; còn đâu Muôn Đời Yêu Chỉ Người Thôi, Nhờ Em Giữ Lấy Tình Ta, Đêm Giã Từ Đà Lạt; thế là hết K Khúc Của Lê, Yêu Dáng Em Xưa, Mùa Thu Mây Ngàn. Biết rằng đó là quy luật của muôn đời, có ai tránh được. Nhưng có lẽ vì tôi chưa sẵn sàng để đón nhận điều đó chăng? Đúng vậy, nhưng làm sao có thể không tiếc khi đó là một kỷ niệm quá ngọt ngào? Và tôi tự nhủ từ nay sẽ chỉ nghe nhạc của Tuấn Ngọc qua băng đĩa thôi. 




















































































Recent Comments